Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Lăng mộ nhiều vàng ngọc ngay giữa Hà Nội



Trước thông tin về “địa đạo” mới được phát hiện tại đình Quán La, Xuân La, Hà Nội, và có một số thông tin đồn đại như giả thuyết “địa đạo” nối từ ngoại thành (Xuân La) tới nội thành Hà Nội (khu vực Cấm Thành – Cửa Bắc), nhiều người thì thầm đây còn là nơi cất giữ của cải của người Tàu…
Trong sách “Tây Hồ chí”, có nói về động Thông Thiên lại cho rằng vua Lý thường ra khu vực này chơi, thấy hang uốn lượn khá đẹp bèn lệnh cho thợ xây nhà và đặt tên là động Thông Thiên.

Đình Quán La
Đình Quán La


Ngay giữa khu vực hoàng thành cũ có những ngôi mộ chứa nhiều đồ quý giá. (Ảnh minh hoạ)
Đình Quán La đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1984. Trong hồ sơ đệ trình Bộ Văn hóa – Thông tin có đề cập đến một “cái hang” ở dưới nền đình, gọi là động Thông Thiên.
Tuần qua, một số chuyên gia lịch sử và khảo cổ học đã lên khi di tích đình Quán La khảo sát sơ bộ. Qua khảo sát, các chuyên gia cho biết có đủ cơ sở để khẳng định đây là ngôi mộ Hán, loại mộ táng được xây bằng gạch thời Bắc thuộc. Hầm mộ ăn sâu dưới nền thượng điện đình Quán La và cửa vào mộ đã bị mở ra từ lâu.
Hầm mộ này tương đối lớn. Trong đó có nhiều ngăn gọi là Nhĩ thất (chính là các ngách nhỏ đã mô tả) với kiến trúc của vòm cuốn. Gạch xây mộ là gạch có hoa văn trám và một số gạch không có hoa văn, gạch xây cuốn hình múi bưởi có hoa văn. Đây là những nét đặc trưng của mộ Hán.
Chủ nhân của các mộ Hán thường là những người có vai vế trong xã hội thời đó, chủ yếu là quan lại, quý tộc. Ngăn chính (Thất) là nơi để mộ phần chủ nhân, còn các ngăn ngách (Nhĩ thất) dùng để đựng đồ tùy táng giá trị. Tuy nhiên, hiện tại, không còn đồ vật cổ quý nào ở đây, chứng tỏ mộ đã bị “hỏi thăm” từ lâu. Cũng qua khảo sát của các nhà sử học, phía trên của vòm cuốn có những viên gạch vồ và cỏ trát vôi vữa.
Vết tích này cho thấy ngôi mộ đã từng bị sửa chữa vì thời Hán chưa có vôi vữa và gạch vồ là sản phẩm từ thời Lê. GS Phan Huy Lê - một thành viên trong đoàn khảo sát cho biết, đây là ngôi mộ Hán, chỉ đáng tiếc là thần phả chứa tại đình Quán La đã bị thất lạc nên không ai khẳng định được chính xác về niên đại cũng như nhân vật được chôn tại ngôi mộ này.
Sách “Tây Hồ chí” viết rằng, đây là ngôi mộ của một nhân vật có vai vế trong xã hội thời đó nên mộ mới có nhiều ngách. Các ngách nhằm để tài sản chia cho người chết. Khi cửa hầm chưa được bịt lại, người ta không tìm thấy hiện vật gì nên các nhà sử học suy đoán có khả năng mộ đã bị kẻ gian đào xới lấy đi các đồ vật. Tại Việt Namđã tìm thấy nhiều ngôi mộ tương tự ở Quảng Ninh, Hải Dương… Những ngôi mộ này thường được xây dựng cầu kỳ.
Gạch múi bưởi được đặt làm riêng và xếp không cần chất kết dính thành những hầm hình vòm cuốn. Có những công trình đã được khai quật cho thấy chúng được bao phủ trong phạm vi cả ngàn mét vuông với kiến trúc đồ sộ mà nhiều người nhầm tưởng là một tòa lâu đài. Sau khi các đường hầm hình thành, quan tài và đồ tùy táng của người chết cũng đã được đặt vào bên trong, các đường hầm sẽ được lấp đất lên trên.
Sau khi được lấp, các ngôi mộ Hán này cao như những quả núi. Vì vậy, nhiều chuyên gia khảo cổ có kinh nghiệm cho biết, nếu trong một vùng bằng phẳng bỗng có một quả núi đất nổi lên, gần đó có một chiếc hồ thì khả năng có mộ Hán. Chiếc hồ là chứng tích của việc đào lấp. Sách “Tây Hồ chí” cũng ghi lại nhiều huyền tích xung quanh “địa đạo” này.
Ví như câu chuyện khi mùa nước lên, đã từng có người dùng một quả bưởi đánh dấu và thả xuống “địa đạo” và sau đó tìm thấy ở Hồ Tây. Có ý kiến còn suy luận “địa đạo” này dài nhiều cây số và chạy đi nhiều hướng và nội thành. Cũng có thông tin cho rằng đó là hầm luyện đan sa của một đạo phái nào đó…
Trong sách “Tây Hồ chí” có ghi, quán nằm trên đỉnh của gò Thất Diệu. Quán thờ Huyền Nguyên đại đế. Vào niên hiệu Khai Nguyên đời Đường, Thứ sử Quảng Châu là Lư Hoán làm đô hộ Giao Châu thấy đất đai bằng phẳng, sông Già La chảy quanh, phong cảnh đẹp đẽ nên xây quán và đề biển là quán Khai Nguyên, ý muốn biểu dương công sức nhà Đường. Tuy nhiên, nhiều người vẫn gọi theo tên cũ là quán Già La.
Đến thời Lý thì quán này vẫn còn. Các vua Lý vẫn thường ra du ngoạn, lại thấy ở dưới chân núi có hang sâu và dài, sai người xây bậc gọi là động Thông Thiên. Đến thời Hậu Lê thì địa danh này được đổi thành Quán La.
Tuy nhiên, hồ sơ này chỉ đề cập đến công trình đình Quán La đang tồn tại hiện nay là do các vua Lý lập nên, không nhắc gì tới xuất xứ, lai lịch của công trình đang nằm dưới nền đình. Tất cả các kết luận chuyên sâu hơn đều cần có thời gian nghiên cứu của các nhà khoa học.



Liên hệ : 0913574894

Email:dieukhaclienvu@yahoo.com







Huyễn hoặc sự thần kì của vua Hùng



Những nghi vấn, băn khoăn
Nếu xét theo thời gian trị vì kéo dài hơn 2000 năm mà chỉ có 18 đời vua thì đây là những con số rất khó thuyết phục; mặc dù ghi chép như vậy để “nêu rõ quốc thống” nhưng các sử gia đều tỏ ý nghi ngờ điều này.
Nhà sử học Ngô Thì Sĩ viết: “Người ta không phải là vàng đá, sao lại sống lâu được như thế? Điều ấy càng không thể hiểu được” (Việt sử tiêu án)
Còn trong cuốn Việt Nam sử lược, nhà sử học Trần Trọng Kim cũng viết: “…Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì được non 150 năm. Dẫu là người đời thượng cổ nữa thì cũng khó lòng mà có nhiều người sống lâu được như vậy”.

Các vua Hùng đều thọ hàng trăm năm tuổi
Các vua Hùng đều thọ hàng trăm năm tuổi

Khác với ghi chép của sử sách và truyền thuyết dã sử, các nhà nghiên cứu cho rằng nước Văn Lang của các vua Hùng chỉ tồn tại trong khoảng 300 – 400 năm và niên đại kết thúc là khoảng năm 208 TCN chứ không phải là năm 258 TCN.
Cuốn Đại Việt sử lược, bộ sử xưa nhất của nước ta còn giữ được đến nay chép rằng: “Đến đời Trang Vương nhà Chu (696 – 681 TCN) ở bộ Gia Ninh có người lạ dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương”.
Không rõ tác giả Đại Việt sử lược căn cứ vào đâu để viết lên như vậy, nhưng đưa ra thời điểm mà nhà nước Văn Lang hình thành vào khoảng thế kỷ VII TCN, tương ứng với giai đoạn Đông Sơn là phù hợp với những kết quả nghiên cứu hiện nay, và con số 18 vua Hùng cai trị trong khoảng 300 – 400 năm được nhiều người chấp nhận hơn, cho dù không thể khẳng định được rằng nước Văn Lang thực sự có đúng 18 đời vua Hùng.
Có 18 đời vua hay 18 ngành vua?
Về con số 18 đời vua, cũng chính Đại Việt sử lược là tác phẩm đầu tiên đề cập tới và dường như dữ kiện đó được nhiều tác phẩm sử học, khảo cứu sau này ghi chép theo, thậm chí các tác phẩm ở dạng diễn ca cũng viết:
Xưng Hùng Vương, cha truyền con nối,
Mười tám đời một mối xa thư,
Cành vàng lá ngọc sởn sơ,
Nước xưng một hiệu, năm dư hai nghìn.
(Thiên Nam minh giá)
Hoặc như một số câu đối ca ngợi về thời đại Hùng Vương cũng đề cập đến có số 18. Thí dụ:
Thập bát truyền vi quân vi vương, trùng xuất tiên nga duy mạt tạo
Ngũ thập tử quy sơn quy hải, biệt trung thần nữ thiệu anh phong.
Nghĩa là:
Mười tám đời truyền làm quân làm vương, hai vị tiên nga cuối dòng họ
Năm mươi con lên núi, xuống biển, một nàng thần nữ nối ngôi cha.
Hay như câu đối:
Nam thiên thập bát thế xa thư, sơ đầu đệ nhất thánh.
Tây nhạc ức vạn niên hương hỏa, thượng đẳng tối linh thần.
Nghĩa là:
Trời Nam 18 đời truyền kiếp, buổi đầu đệ nhất thánh.
Tây nhạc ức vạn năm hương hỏa, thượng đẳng tối linh thần.
Chỉ có 18 đời vua mà cai trị 2.622 năm đã gây ra không ít hoài nghi, tuy nhiên trong các bản Ngọc phả, thần tích như bản Ngọc phả Hùng Vương được soạn năm Thiên Phúc nguyên niên (980) đời vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) nhà Tiền Lê thì không phải là 18 đời vua Hùng mà là 18 nhành/ngành với tổng cộng 180 đời vua:
“Dĩ thượng Hùng đồ thập bát diệp, tỷ phú truyền cơ thái bảo, nhất bách thập bát đại đế vương tốn vị nhất thống sơn hà”
Nghĩa là:
“Mười tám nhành nhà Hùng, ngọc tỷ và ấn tín truyền quyền đại bảo trong khoảng 180 đời nhường ngôi đế vương, một mối non sông xa thư trị nước”.
Nhiều tác phẩm khác như Tân đính Lĩnh Nam chích quái của nhà sử học thời Hậu Lê là Vũ Quỳnh cũng viết là 18 ngành vua Hùng.
Trong Ngọc phả Hùng Vương thì chữ “đời” phải hiểu là chữ “thế” trong Hán tự có nghĩa là không phải một đời người mà là “một dòng gồm nhiều đời”. Hiện ở đình Tây Đằng, huyện Ba Vì, Hà Nội, còn bài vị “Tam Vị Quốc Chúa” thờ 3 vị vua cuối cùng thuộc thế/chi/nhành Hùng Vương thứ 18.

Lăng vua Hùng
Lăng vua Hùng 

Xung quanh vấn đề này, hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng với người Việt số 9 là con số thiêng nên các bội số của nó như số 18 cũng thiêng tương tự như vậy, do đó con số 18 đời Hùng Vương chỉ là con số biểu trưng, ước lệ mà thôi...
Như vậy con số 18 không phải là 18 đời vua Hùng mà là 18 ngành, mỗi ngành gồm nhiều đời vua mang chung vương hiệu, khi hết một nhành mới đặt vương hiệu mới. Bên cạnh đó thời gian trị vì cũng như tuổi thọ của một vị vua có thể hiểu là tuổi của nhiều đời vua và số năm trị vì của nhiều đời vua thuộc một ngành cộng lại vì thế thời gian trị vì hơn 2.622 năm của các vua Hùng không có gì là hoang đường cả. Vì vậy mới có câu rằng:
Sơ khai Nam Việt hữu Kinh Dương,
Nhất thống sơn hà thập bát vương.
Dư bách hệ truyền thiên cổ tại,
Ức niên hương hoả ức niên phương.
Nghĩa là:
Mở đầu Nam Việt có Kinh Dương
Mười tám ngành vua, mười tám chương.
Bách Việt sơn hà muôn thuở đó,
Đời đời đèn nến nức thơm hương.
Bản Thần tích xã Vi Cương (Phú Thọ) ghi chép khá rõ về các đời vua với những thông tin liên quan, theo đó 18 ngành vua Hùng có tất cả 180 đời vua nối nhau trị vì: “Tính trong 18 chi đời vua Hùng truyền ngôi đại bảo cho 180 đời đế vương, sơn hà quy về một mối, kiến lập được 122 thành điện. Tổng cộng các năm của 18 đời Thánh vương di truyền ngôi cho các triều thánh tử thần tôn là 2.622 năm, thọ 8.678 tuổi, sinh được 986 chi, các hoàng tử công chúa sinh được 14.378 cháu chắt miêu duệ, cai trị khắp đầu non góc biển trong nước, vạn cổ trường tồn, mãi mãi không bao giờ dứt”.


Liên hệ :  0913574894

Email:dieukhaclienvu@yahoo.com