Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

10 tác phẩm tượng nổi tiếng nhất thế giới




 David của Michelangelo Buonarroti
  David của Michelangelo Buonarroti

1. David của Michelangelo Buonarroti
Đây là bức tượng cao 4,34m dễ nhận ra nhất trên trái đất. Michelangelo đã bắt tay vào công việc từ năm 1501 và hoàn tất bức tượng này năm 1504. David là một nhân vật trong Kinh thánh tượng trưng cho sức mạnh.


Tượng thần vệ nữ (Venus)
Tượng thần vệ nữ (Venus)

2. Tượng thần vệ nữ (Venus)
Theo thần thoại La mã thì Venus là nữ thần của tình yêu và sắc đẹp. Có rất nhiều bức tượng về thần Venus nhưng nổi tiếng nhất là bức tượng cẩm thạch Venus de Milo có niên đại từ thế kỷ 1 hoặc 2 trước Công nguyên. Bức tượng không có tay này được tìm thấy trên đảo Melos của Hy Lạp năm 1820. Đến nay vẫn chưa rõ tác giả của bức tượng này là ai.

Người suy tưởng (The Thinker) của Rodin
Người suy tưởng (The Thinker) của Rodin

3. Người suy tưởng (The Thinker) của Rodin
Đây có thể gọi là bức tượng nổi tiếng nhất của Rodin. Nó bằng đồng, cao có 71,5cm, được hoàn tất năm 1881. Rodin chưa bao giờ được nhận vào các trường nghệ thuật nên ông đã xin vào tu viện. Sau thời gian dài nghiên cứu và được sự động viên của tu viện trưởng, ông đã bắt tay vào tạc tượng. Bức tượng "Người suy tưởng" đã giúp tên tuổi của Rodin được người sau biết đến.



 Tượng nhân sư khổng lồ
 Tượng nhân sư khổng lồ


4. Tượng nhân sư khổng lồ
Cùng với Kim tự tháp, tượng nhân sư khổng lồ là một biểu tượng của Ai Cập cổ đại. Con thú bí hiểm có mình sư tử và đầu của một người đàn ông này có chiều dài 60m và cao 20m. Bức tượng được tạc từ cùng loại đá xây Kim tự tháp Ai Cập.


Moses của Michelangelo Buonarroti
Moses của Michelangelo Buonarroti

5. Moses của Michelangelo Buonarroti
Michelangelo được biết đến với một loạt các bức tranh trên trần nhà thờ. Moses là bức tượng lớn cuối cùng của ông. Ông đã mất 30 năm để tạc ra bức tượng miêu tả một nhà tiên tri ngồi xuống sau khi đã kiềm chế cơn tức giận.

Tượng thần Hermes và Dionysios của Praxiteles
Tượng thần Hermes và Dionysios của Praxiteles

6. Tượng thần Hermes và Dionysios của Praxiteles
Đây là một trong những kiệt tác còn lại của nhà điêu khắc Hy Lạp cổ Praxiteles. Bức tượng này miêu tả vị thần của tuổi trẻ, sức mạnh và trí tuệ uyên bác. Tay trái vị thần ôm một đứa bé. Vẻ đẹp của bức tượng cẩm thạch này là một bằng chứng rõ ràng về tài năng của nghệ sĩ Praxiteles trong các chi tiết trên khuôn mặt và mái tóc từ thời cổ đại đến nay vẫn chưa ai vượt qua được.


Nụ hôn - tác giả: Rodin
Nụ hôn - tác giả: Rodin

7. Nụ hôn - tác giả: Rodin
Nhà điêu khắc hiện thực người Pháp Auguste Rodin đã tạo nên bức tượng này vào năm 1886 để mô tả nội tâm con người qua những cử động của cơ thể. Ban đầu tác phẩm này được xem là một phần trong bộ tác phẩm Cổng địa ngục của Rodin. Nhưng do bề ngoài quá gây chú ý của nó nên cuối cùng bức tượng này được tách ra.



Đài tưởng niệm Lincoln của Daniel Chester
Đài tưởng niệm Lincoln của Daniel Chester 

8. Đài tưởng niệm Lincoln của Daniel Chester
Để tỏ lòng tôn kính vị tổng thống có uy tín nhất trong lịch sử của nước Mỹ, nhà điêu khắc Daniel đã mất 8 năm để hoàn thành bức tượng tưởng niệm Lincoln. Tác phẩm này được đánh giá là bức tượng vĩ đại nhất mà con người từng tạo nên. Hàng triệu người đã chiêm ngưỡng bức tượng khổng lồ này mỗi năm.


Nữ thần chiến thắng có cánh
Nữ thần chiến thắng có cánh

9. Nữ thần chiến thắng có cánh
Bức tượng này được tạc từ khoảng năm 190 trước Công nguyên và được xem là biểu tượng của chiến thắng với người Hy Lạp cổ. Ban đầu bức tượng bằng cẩm thạch này được đặt trên một sườn núi để kỷ niệm một chiến thắng lẫy lừng của hải quân Hy Lạp. Tình cờ sau đó các nhà khảo cổ Pháp đã tìm thấy bức tượng bị mất đầu và vỡ thành hàng trăm mảnh trên đảo Samothrace. Các chuyên gia phục chế của Viện Bảo tàng Louvre (Pháp) đã phải kỳ công ghép các mảnh vỡ lại và hiện nay bức tượng cao 3,28m này đang được đặt tại đây.


Đội quân đất nung
Đội quân đất nung

10. Đội quân đất nung
Năm 1974, những người nông dân ở thành phố Tây An, phía Bắc Trung Quốc đã tình cờ phát hiện ra khu lăng mộ sâu dưới đất của Tần Thuỷ Hoàng - vị vua đầu tiên thống nhất Trung Quốc. Đặc sắc nhất trong khu mộ này là đội quân đất nung gồm 7.000 binh mã kích cỡ như thật, có niên đại từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên. Từ đó đến nay, khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng với đội quân đất nung trở thành điểm hấp dẫn du khách nhất tại Trung Quốc.

Liên hệ : số 15 ngõ 101 Hào Nam – Hà Nội

Dd: 0913574894

Email:dieukhaclienvu@yahoo.com







Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Lăng mộ nhiều vàng ngọc ngay giữa Hà Nội



Trước thông tin về “địa đạo” mới được phát hiện tại đình Quán La, Xuân La, Hà Nội, và có một số thông tin đồn đại như giả thuyết “địa đạo” nối từ ngoại thành (Xuân La) tới nội thành Hà Nội (khu vực Cấm Thành – Cửa Bắc), nhiều người thì thầm đây còn là nơi cất giữ của cải của người Tàu…
Trong sách “Tây Hồ chí”, có nói về động Thông Thiên lại cho rằng vua Lý thường ra khu vực này chơi, thấy hang uốn lượn khá đẹp bèn lệnh cho thợ xây nhà và đặt tên là động Thông Thiên.

Đình Quán La
Đình Quán La


Ngay giữa khu vực hoàng thành cũ có những ngôi mộ chứa nhiều đồ quý giá. (Ảnh minh hoạ)
Đình Quán La đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1984. Trong hồ sơ đệ trình Bộ Văn hóa – Thông tin có đề cập đến một “cái hang” ở dưới nền đình, gọi là động Thông Thiên.
Tuần qua, một số chuyên gia lịch sử và khảo cổ học đã lên khi di tích đình Quán La khảo sát sơ bộ. Qua khảo sát, các chuyên gia cho biết có đủ cơ sở để khẳng định đây là ngôi mộ Hán, loại mộ táng được xây bằng gạch thời Bắc thuộc. Hầm mộ ăn sâu dưới nền thượng điện đình Quán La và cửa vào mộ đã bị mở ra từ lâu.
Hầm mộ này tương đối lớn. Trong đó có nhiều ngăn gọi là Nhĩ thất (chính là các ngách nhỏ đã mô tả) với kiến trúc của vòm cuốn. Gạch xây mộ là gạch có hoa văn trám và một số gạch không có hoa văn, gạch xây cuốn hình múi bưởi có hoa văn. Đây là những nét đặc trưng của mộ Hán.
Chủ nhân của các mộ Hán thường là những người có vai vế trong xã hội thời đó, chủ yếu là quan lại, quý tộc. Ngăn chính (Thất) là nơi để mộ phần chủ nhân, còn các ngăn ngách (Nhĩ thất) dùng để đựng đồ tùy táng giá trị. Tuy nhiên, hiện tại, không còn đồ vật cổ quý nào ở đây, chứng tỏ mộ đã bị “hỏi thăm” từ lâu. Cũng qua khảo sát của các nhà sử học, phía trên của vòm cuốn có những viên gạch vồ và cỏ trát vôi vữa.
Vết tích này cho thấy ngôi mộ đã từng bị sửa chữa vì thời Hán chưa có vôi vữa và gạch vồ là sản phẩm từ thời Lê. GS Phan Huy Lê - một thành viên trong đoàn khảo sát cho biết, đây là ngôi mộ Hán, chỉ đáng tiếc là thần phả chứa tại đình Quán La đã bị thất lạc nên không ai khẳng định được chính xác về niên đại cũng như nhân vật được chôn tại ngôi mộ này.
Sách “Tây Hồ chí” viết rằng, đây là ngôi mộ của một nhân vật có vai vế trong xã hội thời đó nên mộ mới có nhiều ngách. Các ngách nhằm để tài sản chia cho người chết. Khi cửa hầm chưa được bịt lại, người ta không tìm thấy hiện vật gì nên các nhà sử học suy đoán có khả năng mộ đã bị kẻ gian đào xới lấy đi các đồ vật. Tại Việt Namđã tìm thấy nhiều ngôi mộ tương tự ở Quảng Ninh, Hải Dương… Những ngôi mộ này thường được xây dựng cầu kỳ.
Gạch múi bưởi được đặt làm riêng và xếp không cần chất kết dính thành những hầm hình vòm cuốn. Có những công trình đã được khai quật cho thấy chúng được bao phủ trong phạm vi cả ngàn mét vuông với kiến trúc đồ sộ mà nhiều người nhầm tưởng là một tòa lâu đài. Sau khi các đường hầm hình thành, quan tài và đồ tùy táng của người chết cũng đã được đặt vào bên trong, các đường hầm sẽ được lấp đất lên trên.
Sau khi được lấp, các ngôi mộ Hán này cao như những quả núi. Vì vậy, nhiều chuyên gia khảo cổ có kinh nghiệm cho biết, nếu trong một vùng bằng phẳng bỗng có một quả núi đất nổi lên, gần đó có một chiếc hồ thì khả năng có mộ Hán. Chiếc hồ là chứng tích của việc đào lấp. Sách “Tây Hồ chí” cũng ghi lại nhiều huyền tích xung quanh “địa đạo” này.
Ví như câu chuyện khi mùa nước lên, đã từng có người dùng một quả bưởi đánh dấu và thả xuống “địa đạo” và sau đó tìm thấy ở Hồ Tây. Có ý kiến còn suy luận “địa đạo” này dài nhiều cây số và chạy đi nhiều hướng và nội thành. Cũng có thông tin cho rằng đó là hầm luyện đan sa của một đạo phái nào đó…
Trong sách “Tây Hồ chí” có ghi, quán nằm trên đỉnh của gò Thất Diệu. Quán thờ Huyền Nguyên đại đế. Vào niên hiệu Khai Nguyên đời Đường, Thứ sử Quảng Châu là Lư Hoán làm đô hộ Giao Châu thấy đất đai bằng phẳng, sông Già La chảy quanh, phong cảnh đẹp đẽ nên xây quán và đề biển là quán Khai Nguyên, ý muốn biểu dương công sức nhà Đường. Tuy nhiên, nhiều người vẫn gọi theo tên cũ là quán Già La.
Đến thời Lý thì quán này vẫn còn. Các vua Lý vẫn thường ra du ngoạn, lại thấy ở dưới chân núi có hang sâu và dài, sai người xây bậc gọi là động Thông Thiên. Đến thời Hậu Lê thì địa danh này được đổi thành Quán La.
Tuy nhiên, hồ sơ này chỉ đề cập đến công trình đình Quán La đang tồn tại hiện nay là do các vua Lý lập nên, không nhắc gì tới xuất xứ, lai lịch của công trình đang nằm dưới nền đình. Tất cả các kết luận chuyên sâu hơn đều cần có thời gian nghiên cứu của các nhà khoa học.



Liên hệ : 0913574894

Email:dieukhaclienvu@yahoo.com