Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Đình Tây Đằng



Xứ Đoài có nhiều ngôi đình cổ, có giá trị về kiến trúc và điêu khắc như: đình Chu Quyến (xã Chu Minh, huyện Ba Vì), đình Đại Phùng (xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng), đình Tường Phiêu (xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ), đình So (xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai)… Và đình Tây Đằng ở huyện Ba Vì cũng thuộc loại kiến trúc nổi tiếng như vậy.

Ngôi đình thờ Tản Viên, một trong bốn vị thánh bất tử của Đạo giáo Việt Nam, một trong những nhân vật hàng đầu của thần thoại Việt – Mường cổ. Theo truyền thuyết, Tản Viên là thần núi Ba Vì – Sơn Tinh, được vua Hùng thứ 18 gả công chúa Ngọc Hoa, bị Thủy Tinh dâng nước, kéo thủy quái đánh trả mối hận không lấy được con gái vua Hùng. Tản Viên được coi là một trong 50 con của Âu Cơ – Lạc Long Quân theo mẹ lên núi, có công giúp vua Hùng thứ 18 bình Thục Phán. Tản Viên còn là hình tượng nói lên sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trong quá trình trị thủy, tiến hành nghề trồng lúa nước để sinh tồn và phát triển.

Phía trước đình Tây Đằng là mảnh đất rộng làm nơi sinh hoạt cộng đồng trong ngày hội. Tiếp đó là hồ bán nguyệt ở ngay trước nghi môn trụ. Vẻ đẹp của đình Tây Đằng không phải ở khung cảnh thiên nhiên mỹ lệ, cũng không phải ở quy mô đồ sộ mà là ở nghệ thuật điêu khắc chạm trổ, trang trí còn lưu lại trên các cột, vì kèo, xà, đấu, ván long, lá gió… Ngôi đình không có tòa ngang dãy dọc. Ngoài hai ngôi nhà tả mạc, hữu mạc ở hai bên sân thì đình chỉ có mỗi một nếp nhà kiểu chữ “nhất”, không có hậu cung, cũng không có tiền tế. Nhưng chính ở ngôi đình này, chúng ta được chiêm ngưỡng tài năng tuyệt vời của những người thợ mộc đã đạt tới trình độ nghệ sĩ dân gian. Đến nay vẫn chưa biết chính xác đình được xây dựng năm nào, chỉ biết rằng so sánh với đình Lỗ Hạnh (huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) thì phong cách và nội dung chạm trổ có nhiều nét giống nhau. Mà đình Lỗ Hạnh có ghi niên đại tuyệt đối là năm 1576. Như vậy, đình Tây Đằng có thể được xây dựng vào thế kỷ 16.

Đình có 5 gian, 4 mái. Các đầu đao đều uốn cong, có gắn long, li, quy, phượng bằng đất nung màu gan trâu. Bên trong đình dựng kiều chồng giường với 48 cột lớn nhỏ, chia thành 3 gian chính, 2 gian chái, có hàng hiên bao quanh. Các xà, đấu, kèo, cốn đều có chạm khắc. Các hình rồng, phượng và hoa lá chiếm phần lớn trong các đề tài trang trí. Rồng ở đây mang phong cách thời Trần, hầu hết hình vóc nhỏ, có mào, râu tóc thưa thớt, khúc uốn không cong mấy, có thêm cặp sừng và tai của giống thú bốn chân. Chim phượng ở tư thế múa cánh xòe cả hai bên như hình trăng lưỡi liềm, đầu to, cổ mập mạp, mỏ ngắn và đuôi cũng ngắn. Loại hình điêu khắc này là nét riêng biệt của đình Tây Đằng, rất ít thấy ở các đình, chùa khác. Hoa lá được chạm khắc khá nhiều, phổ biến nhất là những hình hoa cúc. Cúc ở đây gồm những cánh hoa nở xòe, ở giữa có những lớp cánh khác còn cụp lại. Bên cạnh có những lá cúc được cách điệu đôi chút. Có cả hoa phù dung với các cánh nở xòe, uốn sang hai bên khá cân đối bằng những đường cong thanh thoát. Song có lẽ đặc biệt nhất và độc đáo nhất trong nghệ thuật điêu khắc ở ngôi đình này chính là những hình chạm trên các bức cốn, các ván long… phản ánh sinh động nhiều mặt đời sống, lao động, vui chơi giải trí của người dân nơi thôn dã ngày trước. Chỉ với vài ba nét đục giản dị mà người thợ mộc nghệ sĩ đã để lại trên gỗ bao cảnh đời khác nhau. Từ cảnh lam lũ của người tiều phu đốn củi, đến cảnh vất vả như người mẹ gánh con trong đôi thúng, hào hứng như người làm trò trồng cây chuối, mạnh mẽ như cảnh đấu hổ… Có một bức chạm tạm đặt tên là “Chèo thuyền chuốc rượu” có sóng làm thuyền chòng chành, có cả mây vấn vương bên thuyền, tất cả như đang lướt theo nhịp đung đưa, trong một bố cục không phụ thuộc vào luật phối cảnh xa gần của hội họa. Gợi cảm như cảnh Bà Banh (người đàn bà ngồi xổm gần như khỏa thân), cảnh ông già ngồi chải tóc cho người vợ trẻ… Điểm xuyết với linh vật và con người là các cây có thiêng, mây xoắn cuộn tròn được chạm trổ rất kỹ. Thông qua các cảnh đó, người xem thấy được ước vọng cầu nước, mong được mùa lúa bội thu của cư dân nông nghiệp.

Như một di sản văn hóa dân tộc, đình Tây Đằng là quà tặng của tổ tiên để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đình Tây Đằng ở không xa trung tâm Thủ đô Hà Nội, là điểm du lịch hấp dẫn, đang thu hút được nhiều du khách trong nước và quốc tế. Điều này xem ra rất “hợp ý, hợp cảnh” khi hiện nay huyện Ba Vì đang có kế hoạch phát triển du lịch văn hóa và du lịch sinh thái - thế mạnh của huyện.

đình Tây Đằng
đình Tây Đằng


Theo www.ktdt.com.vn
Liên hệ : số 15 ngõ 101 Hào Nam – Hà Nội
Dd: 0913574894
Email:dieukhaclienvu@yahoo.com

Mỹ thuật Việt Nam: Dần nhạt nhòa bản sắc



Nền kinh tế đất nước chuyển mình và nền nghệ thuật tạo hình cũng chuyển mình theo thiên hướng thị trường mạnh mẽ, ồn ào. Từ đó đến nay đội ngũ người vẽ tranh ngày một đông đảo nhưng nhìn đi nhìn lại thì hình như cái được gọi là bản sắc đậm đà dân tộc trong mỹ thuật đang có phần mờ nhạt...

Nhớ một thời...

Giới mỹ thuật chúng ta không thể nào quên những tác phẩm: “Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” (Nguyễn Sáng), “Thiếu nữ bên hoa huệ” (Tô Ngọc Vân), “Vườn xuân Trung Nam Bắc” (Nguyễn Gia Trí), rồi “Phố Phái”... ở thời mỹ thuật chưa mấy rộn ràng mà cái bản sắc dân tộc vẫn lồ lộ không trộn vào đâu được. Vậy bản sắc dân tộc là gì?...

Chưa có định nghĩa xác đáng cho cụm từ này. Tuy vậy, không có nghĩa là chúng ta không nhận ra nét khái quát của nó. Theo Peter Weiss nhà nghệ thuật học Thụy Điển: “Mỹ thuật cổ Việt Nam trội và đẹp hơn hẳn Mỹ thuật đương đại - đặc biệt là Mỹ thuật dân gian rất độc đáo, tương quan về khối hình cách điệu cao...”.

Còn chúng ta từ lâu cũng đã nghĩ như vậy và tự hào về ông cha ta - những nghệ sỹ tài hoa tuyệt vời - ở đó không chỉ có sự khéo tay hay mắt, không chỉ thể hiện nét tinh vi và kỹ xảo mà đáng kính phục đó là sự truyền tải tư tưởng, truyền cảm đến người xem một tính cách Việt Nam.

Để có những sáng tạo ấy, phải từ một tình cảm chân thành, một sự sùng kính tột cùng, yêu thương rất mực. ở đó không có sự tính toán thiệt hơn, không danh lợi, không ganh ghét, chỉ có một tấm lòng chân thành trong trẻo, mới tạo nên những tác phẩm thăng hoa, đầy trí tuệ và thực sự bộc lộ bản chất dân tộc đậm đà để mãi cho đời sau. Đây chính là cái còn thiếu vắng của mỹ thuật hiện đại đang náo nhiệt ồn ào.

Người người làm họa sĩ

Nhiều lớp họa sỹ kế cận liên tiếp sau này - ngoài 4 trường nghệ thuật của cả nước còn có nhiều trường lớp không chuyên khác mỗi năm cho ra lò hàng trăm họa sỹ. Thế nên mới có người nói hài hước: “Một nửa người Việt Nam ta là họa sỹ”.

Còn ở Hội An thì “nhà nhà gallery, người người là họa sỹ”. Đó là chưa kể còn những mạch ngầm. Nhiều họa sỹ, nhà điêu khắc, nhà làm gốm ở Phủ Lãng, Bát Tràng cũng đang sáng tạo không cần ai biết đến. Phải chăng chính họ là lớp người đáng kể góp phần quan trọng làm nên diện mạo nền nghệ thuật tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc?

Có lẽ chưa bao giờ nghệ thuật Việt Nam lại phát triển như ngày nay, đó là sự bùng nổ mà cái trục là Hội Mỹ thuật Việt Nam - qua nhiều cuộc triển lãm mỹ thuật toàn quốc, toàn quân cùng nhiều cuộc triển lãm khu vực và cá nhân.

Có nhiều giải thưởng cho những tác phẩm được khẳng định. Mặc dù vậy ta vẫn nhận thấy có gì như trống trải thiếu vắng, phải chăng tỷ lệ những tác phẩm đạt đến một trình độ nghệ thuật cao để người ta nhớ mãi cũng không nhiều. Vậy là “lượng” họa sĩ thì nhiều nhưng “chất” nghệ thuật lại chưa mạnh.

Đi tìm bản sắc

Có thể nói lớp họa sĩ trẻ ngày nay sớm bắt gặp thời kỳ rộng mở, kịp nhập cuộc ngay từ lúc còn là sinh viên với nghệ thuật sắp đặt và trình diễn...

Tuy nhiên GS - họa sỹ Vũ Giáng Hương đã từng nhận xét: “Có những sắp đặt quá sơ sài và tự nhiên chủ nghĩa, không mang lại cho người xem một cảm nhận gì tốt đẹp...”.

Ở đây tôi không đề cập đến loại hình nghệ thuật này bởi vì nó quá mới với chúng ta. Ngày nay nghệ thuật tạo hình đang phát triển rầm rộ, không chỉ ở các đô thị lớn mà đã lan tỏa rộng khắp.

Nên chăng chúng ta cần bàn kỹ về mục tiêu xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong mỹ thuật để có một tiêu chí mạch lạc, lấy đó làm cơ sở thẩm định, đánh giá đúng giá trị tác phẩm nghệ thuật, tránh những cách nhìn cảm tính, dễ dẫn đến sai lầm cụ thể như việc cho giải lớn ở một tác phẩm sao chép của nước ngoài đã khiến dư luận xôn xao, một vết chàm khó rửa còn mãi đến hôm nay.

Có người nói: “Đã là người Việt Nam vẽ thì tất yếu trong đó đã có tính dân tộc Việt Nam rồi...”. Lạ chưa, nếu là bắt chước cách làm của nước ngoài không qua sàng lọc nghiên cứu, vội vàng ăn sẵn, lồng ghép với nội dung Việt Nam và gán cho nó một cái tên thuần Việt mà nói là có tính dân tộc được hay sao?

Là người Việt Nam nếu không tìm hiểu lịch sử truyền thống, không chịu hiểu non sông đất nước mình, không biết đến ông cha mình thì còn có là mình nữa không chứ, tiếc thay...

Hội Mỹ thuật Việt Nam đã đi qua 50 năm, và lại bắt đầu 50 năm kế tiếp. Hy vọng một thế hệ nghệ sĩ trẻ. Nghệ sĩ của thế kỷ mới này không bị luẩn quẩn trong vòng danh lợi mà làm phai nhạt truyền thống tốt đẹp của Mỹ thuật nước nhà. Để tiến tới xây dựng một nền Mỹ thuật Việt Nam ngang tầm với các nền văn hóa lớn trên thế giới.

Họa sĩ Ngô Chính

Liên hệ : số 15 ngõ 101 Hào Nam – Hà Nội

Dd: 0913574894

Email:dieukhaclienvu@yahoo.com